• "Làm khoa học phải có niềm đam mê và kế hoạch dài hạn!"
    •  

         PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu, Viện trưởng Viện Điện tử, Viện Khoa học-Công nghệ quân sự:

      "LÀM KHOA HỌC PHẢI CÓ NIỀM ĐAM MÊ VÀ KẾ HOẠCH DÀI HẠN!"

    • Theo báo QĐND - Thứ Tư, 19/12/2012, 11:24 (GMT+7)

      QĐND - Những gì chúng ta làm được ngày hôm nay có lẽ đều bắt nguồn từ ngày hôm qua. Những gì Viện Điện tử đã và đang thành công, đều được tạo nền từ những thế hệ đàn anh đi trước. Đó là thế hệ những người nghiên cứu "vạch nhiễu tìm thù", góp phần làm nên chiến thắng "Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không" 40 năm trước.

      Ấy là sự khiêm nhường đáng có của những nhà khoa học chân chính. Còn bản thân ông, Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu, Viện trưởng Viện Điện tử thuộc Viện Khoa học-Công nghệ quân sự của Bộ Quốc phòng, đã cùng đồng nghiệp nghiên cứu, ứng dụng hàng chục đề tài khoa học từ cấp cơ sở, cấp Bộ tới cấp Nhà nước, đem lại nhiều giá trị khoa học và thực tiễn trên nhiều lĩnh vực...

      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu

       

      Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu cho biết:

           - Viện Điện tử được thành lập cách đây 52 năm. Tiền thân của Viện chỉ là một phòng nghiên cứu về kỹ thuật điện tử, sau được phát triển thành Phân viện Điện tử, thuộc Viện Kỹ thuật quân sự(cũ), nay là Viện Khoa học-Công nghệ quân sự, Bộ Quốc phòng. Những năm đầu thành lập, tuy là một cơ sở nghiên cứu nhưng rất thiếu thốn về trang thiết bị. Tất nhiên những năm tháng ấy, tôi còn nhỏ, chưa biết được gì. Sau này được về công tác tại viện, qua học tập truyền thống mới hiểu được các bậc đàn anh đã làm được rất nhiều việc, dù trong tay rất khó khăn về trang thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học...

      Phóng viên (PV): Chẳng hạn như trong quá trình nghiên cứu chuẩn bị đối phó với B-52, viện ta đã có những đóng góp gì, thưa ông?

      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Có thể nói B-52 có một hệ thống gây nhiễu vô cùng phức tạp. Trên mỗi chiếc B-52, có từ 9 đến 15 máy gây nhiễu, chế áp trên tất cả các dải tần số, đủ sức trùm phủ nhiễu lên toàn bộ các đài ra-đa miền Bắc lúc đó. Trên máy bay B-52 còn có vài tên lửa “mồi bẫy”, sẵn sàng phóng ra để hút đạn SAM-2 vào, gây nổ nhầm, giống như kiểu “liều mình cứu Chúa”. Chưa hết, các tốp F-4 hộ tống B-52 dày đặc còn mang theo máy gây nhiễu trong đội hình và ngoài đội hình. Trước khi B-52 vào, hai máy bay còn có nhiệm vụ mang theo hàng chục bó nhiễu tiêu cực, chọn hướng gió thả các sợi kim loại bay lơ lửng trên bầu trời Hà Nội và phụ cận, nhằm làm “mờ mắt” tất cả các ra-đa của đối phương. Phân viện Điện tử lúc đó đã cử cán bộ kết hợp với bộ đội Phòng không-Không quân nghiên cứu sâu vấn đề này. Cuối cùng chúng ta đã "vạch nhiễu tìm thù" thành công, hàng chục máy bay B-52 đã bị bộ đội Phòng không bắn hạ.
      PV: Nghe nói trước đó, Phân viện Điện tử cũng đã có đóng góp rất lớn trong việc "khóa mõm" các loại bom từ trường của Mỹ?
      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Sau này chúng tôi được biết chính người Mỹ cũng rất ngạc nhiên, vì họ cho rằng, bom từ trường chỉ có thể phá bằng cách cho kích nổ tự nhiên. Thế nhưng ta có cách phá bằng các giải pháp khoa học kỹ thuật, vẫn đến gần bom, ung dung tháo bom mà không cần cho kích nổ. Rồi đến thời kỳ rà phá thủy lôi. Thời ấy, một thiết bị điều khiển từ xa như điều khiển ti vi bây giờ, nguyên lý có vẻ đơn giản, nhưng hiệu quả của nó lại rất  lớn. Trước đó, để rà phá thủy lôi, phải đưa những tàu có người đi trước làm nhiệm vụ cảm tử để các tàu đi sau vượt lên. Phân viện Điện tử đã tạo được những thiết bị điều khiển tàu từ xa, không người lái, đi trước dẫn đường...
      Trong chiến tranh, cán bộ của phân viện chúng tôi cũng bám sát bộ đội, bám sát chiến trường để nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật, phục vụ chiến đấu... Đơn vị đã có 4 đồng chí hy sinh khi làm nhiệm vụ, trong đó một anh hùng liệt sĩ là nhà khoa học trẻ Hoàng Kim Giao đã hy sinh dũng cảm do phá bom từ trường. Với những thành tích ấy, Phân viện Điện tử đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân năm 1985.
      PV: Và từ một Phân viện Điện tử "khiêm tốn" nhưng có bề dày truyền thống trong phục vụ chiến đấu, đơn vị đã phát triển thành một cơ sở khoa học khá quy mô và uy tín như hiện nay?
      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Năm 1989, Viện Điện tử được chính thức thành lập. Từ đó đến nay, chúng tôi đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến xây dựng các trạm tự động hóa chỉ huy trong quốc phòng-an ninh, thông tin-liên lạc, thiết kế chế tạo các thiết bị liên quan đến trinh sát, tác chiến điện tử, các thiết bị mô phỏng huấn luyện... Nhiều trang bị-thiết bị trực tiếp phục vụ chiến đấu, phục vụ sản xuất...
      Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Viện Điện tử lại được phát triển, tách ra một số cơ sở nghiên cứu khác theo từng giai đoạn, như: Viện Ra-đa, Viện Vật lý kỹ thuật, Viện Tự động hóa kỹ thuật quân sự, Phòng thí nghiệm trọng điểm an toàn thông tin... hay các đơn vị như Cục Tiêu chuẩn-Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Quốc phòng, Cục Tác chiến điện tử, Nhà máy Z-181 thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng...
      PV: Gắn cả đời với nghiên cứu khoa học, ông rút ra được điều gì thấm thía nhất?
      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Sau nhiều năm nghiên cứu, tôi rút ra một điều: Thời gian học đại học tuy vất vả nhưng chưa thấm vào đâu so với quá trình ra trường công tác, đặc biệt là các đơn vị nghiên cứu. Cái lý thú của nghiên cứu khoa học cũng khác với học tại trường đại học. Đặc biệt trong nghiên cứu, đam mê là điều kiện đầu tiên. Mặt khác, phải tập trung tư tưởng cao độ. Người ta nói: "Trong học tập cũng như nghiên cứu khoa học, tập trung chú ý là bà chúa của trí tuệ". Phải luôn nghĩ những việc lớn và dài hơi. Bây giờ, với một doanh nghiệp cũng phải có chiến lược lâu dài thì mới phát triển thành công bền vững  được. Bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà khoa học nếu có niềm đam mê và có kế hoạch dài hạn.
      Việt Nam mình còn rất nhiều khó khăn, vì cơ sở hạ tầng và công nghệ nền chưa cao. Nếu được quan tâm đầu tư hơn, mình sẽ phát triển không kém gì các nước khác. Việt Nam rất có khả năng phát triển công nghệ phần mềm, nên cần có chiến lược phát triển theo hướng này. Nhật Bản quan tâm đầu tư nghiên cứu cơ bản cho công nghệ sản xuất vi mạch từ những năm 1960-1970 của thế kỷ 20,  bây giờ 40% GDP của Nhật thu được từ sản xuất vi mạch. Như vậy, nếu Việt Nam có chiến lược từ bây giờ về phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, đặc biệt là công nghệ cao và  công nghệ phần mềm thì chắc chắn nền khoa học điện tử, đặc biệt là điện tử quân sự sẽ đạt được những thành tựu lớn.
      PV: Niềm đam mê và kế hoạch dài hạn ấy đã được ông ứng dụng thế nào trong nghiên cứu khoa học, thưa ông?
      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Vũ khí, trang thiết bị hiện nay sử dụng các hệ thống điện tử rất hiện đại, khác nhiều so với trước kia. Vì thế, một mặt ta phải kiên trì tìm hiểu sâu sắc nguyên lý làm việc của chúng trên cơ sở tích cực học tập kiến thức khoa học mới, phải khai thác tốt vũ khí mới; mặt khác vẫn phải "giữ tốt dùng bền" những trang thiết bị cũ đang có, cải tiến dần, tiến tới hiện đại hóa chúng. Chúng ta phải làm thế nào để phục vụ cho bộ đội ứng dụng trang thiết bị thuận tiện trong chiến đấu cũng như trong sinh hoạt, cả việc bộ đội ăn mặc thế nào, thông tin liên lạc với nhau ra sao... Hay như đối với máy bay không người lái, về cơ học nó là cái máy bay, nhưng hệ thống điện tử trên nó đặc biệt quan trọng, phải làm thế nào để chụp ảnh được toàn bộ vùng quan sát, lại tự động tác chiến trực tiếp được. Hiện chúng tôi đã nghiên cứu thành công phần mềm cho máy bay không người lái. Sản phẩm này có ý nghĩa lớn trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, có thể quan sát được cháy rừng, vết dầu loang trên biển, quản lý tàu cá...
      Điện tử quân sự là vấn đề tương đối phức tạp nhưng cũng khá lý thú. Kiến thức điện tử luôn luôn phải được cập nhật. Đơn giản như thiết bị anten,  kích thước phải tương đương bước sóng, nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử thì anten có thể có kích thước nhỏ hơn rất nhiều so với bước sóng làm việc nhưng vẫn hoạt động được nhờ công nghệ mới... Đó là sự kết hợp hài hòa  giữa toán học,  điện tử, công nghệ thông tin, tự động hóa, vật lý học, thậm chí cả sinh học, hóa học... Tôi vẫn thường xuyên nói với các cán bộ khoa học trẻ: Trong nghiên cứu khoa học, không bao giờ gọi là thất bại, tất cả chỉ là thử thách. Mọi kết quả nghiên cứu dù thành công hay không đều phải được ghi chép lại để rút kinh nghiệm và luôn cố gắng để kiến thức ngày hôm nay lớn hơn ngày hôm qua.
      PV: Ông có thể giới thiệu một vài sản phẩm "lưỡng dụng" của đơn vị, phục vụ thiết thực đời sống cộng đồng?
      PGS, TS Nguyễn Thế Hiếu: Điện tử y tế là một ngành kỹ thuật không mới trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đến nay hầu hết những sản phẩm điện tử y tế đều phải nhập ngoại, với giá thành rất cao, gây ảnh hưởng đáng kể tới ngân sách dành cho ngành y và dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Với vai trò là một viện nghiên cứu điện tử hàng đầu quân đội và cũng là của cả nước, thời gian qua đơn vị đã chủ động nghiên cứu, sản xuất các thiết bị điện tử y tế. Ví dụ, chúng tôi đang nghiên cứu và sẽ hoàn thành trong thời gian tới đây các thiết bị X-quang xách tay để phục vụ bộ đội vùng sâu, vùng xa. Chúng tôi cũng đang hướng tới việc nghiên cứu, sản xuất những máy y tế như kéo giãn đốt sống cổ, máy đo nhanh huyết áp, đường huyết... Ngoài ra còn một số vấn đề liên quan đến y tế dự phòng như: telemedicin-khám bệnh từ xa (truyền hình ảnh X-quang từ xa đến trung tâm, bác sĩ trung tâm tư vấn), dao mổ từ xa, điều khiển bằng robot...
      Một kỹ thuật nữa trong điện tử y tế là kỹ thuật chữa bệnh không dùng thuốc. Đầu tiên chúng tôi chỉ nghĩ đến việc phục vụ các đồng chí thương binh nặng. Chúng tôi muốn chế tạo ra máy để tặng họ chứ hoàn toàn không nghĩ tới việc làm kinh tế. Nhưng sau này, thấy nhân dân "chuộng" quá mới nghĩ tới việc sản xuất hàng loạt. Hiện nay thiết bị vật lý trị liệu MF5-08 của viện sản xuất đang đứng vững trên thị trường. Sản phẩm có tính năng kỹ thuật tương đương như vậy, trên thế giới có giá rất cao, có thể lên tới hàng chục nghìn USD, nhưng khi mình tìm hiểu được nguyên lý và tự sản xuất thì giá lại rất rẻ, có thể phổ cập cho toàn dân. Sản phẩm vật lý trị liệu MF5-08  của chúng tôi đã được bán rộng rãi trên thị trường hiện nay và nhận được sự phản hồi tích cực từ phía người tiêu dùng.
      Gần đây, chúng tôi có tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản, họ nghiên cứu hệ thống laser để trị các mụn, vết nám và hệ thống tạo nhiệt hồng ngoại kiểu mới để chăm sóc sức khỏe. Chúng tôi đã nghiên cứu và đưa vào máy MPT8-12,  đây là một loại thiết bị mới, bước đầu ra đời, với giá rẻ hơn rất nhiều so với giá thành của thiết bị có tính năng tương đương ở nước ngoài.
      Máy vật lý trị liệu đa chức năng MPT8-12 có 6 chức năng: Trị liệu bằng điện xung tổng hợp, nhiệt hồng ngoại, thẩm thấu thuốc y học cổ truyền, cân bằng ion, trị liệu bằng laser và trị liệu bằng từ trường. Máy này đặc biệt hiệu quả trong điều trị dự phòng, điều trị đau, điều trị phục hồi chức năng ở một số bệnh hay gặp ở người, nhất là người cao tuổi, thương binh, bệnh binh, người bị di chứng bởi chất độc da cam/dioxin hoặc bởi môi trường làm việc, người lao động nặng... Đặc biệt, máy trị liệu rất hiệu quả đối với bộ đội trong huấn luyện, chiến đấu, vận động viên thể dục, thể thao.
      So một số thiết bị sản xuất trong nước và thiết bị nhập khẩu hiện nay, máy MPT8-12 có nhiều tính năng mới, ưu việt hơn, như: Kết hợp chặt chẽ giữa liệu pháp y sinh học và liệu pháp vật lý; tính năng phòng ngừa, điều trị đa dạng và phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng; thiết kế gọn nhẹ, chắc chắn, phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới; giá thành thấp hơn nhiều so với các thiết bị nhập khẩu cùng loại.
      Sắp tới, cùng với thiết bị vật lý trị liệu MF5-08,  máy MPT8-12 cũng sẽ được trang bị cho các bệnh viện của quân đội, sau đó phổ biến cho nhân dân sử dụng. Điện tử y tế là ngành khoa học có ý nghĩa thực tế cao, nhưng còn khá non trẻ ở Việt Nam. Nghiên cứu những gì phục vụ cho sức khỏe bộ đội và nhân dân, theo tôi đó cũng là một nét nhân văn của các nhà khoa học áo lính-Bộ đội Cụ Hồ!
      PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi với nhiều thông tin lý thú và bổ ích! Xin chúc Viện Điện tử tiếp tục gặt hái những thách công mới!
      HẢI LÝ và NGỌC LAN thực hiện